Bình thường, lượng axit uric trong máu được giữ ổn định ở nồng độ dưới 420 micromol/lít với nam và 360 micromol/lít với nữ. Vậy khi nồng độ axit uric trong máu tăng cao, có phải chúng ta đã mắc bệnh gút?

 

Theo tiêu chuẩn của Rome (1963), chẩn đoán bệnh gút phải đạt tối thiểu 2 trong 4 tiêu chí sau: Một là nồng độ axit uric máu > 420,5 micromol/lít; hai là xuất hiện hạt tophi; ba là có tinh thể urat trong dịch khớp; bốn là tiền sử bệnh nhân có những đợt viêm khớp diễn ra trong thời gian ngắn. Như vậy, nếu chỉ số axit uric tăng cao thì chưa thể chẩn đoán xác định bệnh gút khi thiếu một trong ba điều kiện còn lại.

 

Biểu hiện đặc trưng của bệnh gút là những đợt viêm cấp tính, đột ngột đau nhức khớp (phổ biến ở khớp ngón chân cái), khớp bị sưng, nóng, đỏ, phù nề, căng bóng, kèm theo hiện tượng sốt cao, khát nước,… Sau 1-2 tuần, các triệu chứng sẽ giảm dần. Nếu không có phương pháp điều trị thích hợp, những đợt viêm cấp sẽ tái diễn thường xuyên, kéo dài gây viêm đa khớp, biến dạng khớp, phá hủy xương, sụn khớp hình thành hạt tophi và có nguy cơ dẫn tới tàn phế. Axit uric có thể lắng đọng ở thận, dẫn tới sỏi thận, nặng hơn là gây suy thận.

 

Trong điều trị bệnh gút, các bác sĩ thường chỉ định cho bệnh nhân dùng một số thuốc như: colchicin, thuốc hạ nồng độ axit uric (allopurinol), thuốc giảm đau chống viêm không steroid,... nhưng các loại thuốc này có thể gây nhiều tác dụng phụ.